Giới thiệu  |  Sơ đồ site  |  Ý kiến người dân  |  Danh sách các đơn vị  |  Liên hệ

  • Trang chủ
  • Giới thiệu chung
    • Giới Thiệu
    • Sơ đồ tổ chức
    • Giới thiệu bộ máy
    • Kinh tế
    • Giáo dục
    • Văn hóa - Xã hội
    • Y tế
    • Thể thao
    • Công trinh phúc lợi
    • Chợ - siêu thị
  • Tin tức
    • Điểm tin Hàm Tân
    • Thông tin tổng hợp
    • Tin mới - Tờ tin
    • Tin trong Tỉnh
  • Đảng Bộ
    • Hoạt Động
    • BCH Nhiệm Kỳ 2006-2010
    • Điều Lệ Đảng
    • Học tập NQ Đảng
    • Tư Liệu Khác
    • Văn Kiện Đại Hội
  • Hội đồng nhân dân
    • Các Nghị Quyết
    • Hoạt động
    • Thường trực các ban
    • ĐB Nhiệm kỳ 2004-2009
    • Các kỳ họp thường kỳ
  • Ủy Ban Nhân Dân
    • Hoạt động
    • Lịch công tác
    • Thông báo
    • Thường trực các ủy viên
    • Tình Hình KT-XH
    • Quyết định QPPL
  • MTTQ & Đoàn Thể
    • Ủy ban Mặt trận Tổ quốc
    • Liên đoàn Lao động
    • Hội Nông dân
    • Hội Liên hiệp Phụ nữ
    • Hội Cựu Chiến binh
    • Đoàn Thanh niên
    • Hội Chữ thập đỏ
    • Hội Khuyến học
    • Hội Đông Y
    • Hội Cựu Tù chính trị
    • Hội Chất độc da cam
  • Các Phòng, Ban, Đơn vị
    • Văn phòng HĐND & UBND
    • Phòng Tài chính - Kế hoạch
    • Phòng Tài nguyên Môi trường
    • Phòng nội vụ
    • Thanh tra Huyện
    • Phòng Tư Pháp
    • Phòng Công Thương
    • Phòng Nông nghiệp & PTNT
    • Đài Truyền thanh - Truyền hình
    • Phòng Văn hóa Thông tin
    • Phòng Lao động & TBXH
    • Phòng Giáo dục & Đào tạo
    • Phòng Y Tế
    • Ban quản lý CNN- TTCN
    • Ban Quản lý Công trình Công cộng
    • Ban bồi thường giải tỏa
    • Trung tâm Văn hóa Thông tin - Thể thao
    • Trung tâm Dạy nghề
    • Trạm Khuyến Nông
  • UBND các Xã, Thị Trấn
    • Thị trấn Tân Nghĩa
    • Thị trấn Tân Minh
    • Xã Sông Phan
    • Xã Tân Phúc
    • Xã Tân Đức
    • Xã Tân Thắng
    • Xã Thắng Hải
    • Xã Tân Hà
    • Xã Tân Xuân
    • Xã Sơn Mỹ
  • Dân Tộc
    • Các Chính sách
    • Hoạt động
  • Tôn Giáo
    • Các Cơ sở
    • Hoạt động
  • Địa giới Hành chính

Tìm kiếm

Tìm kiếm chi tiết

Liên kết website

Giá vàng


Ngoại tệ


Thời tiết


Cải cách hành chính


Tổng lượt truy cập
320,012

Đang xem

Trang Chủ  => Đảng Bộ => Văn Kiện Đại Hội


Góp ý Dự thảo báo cáo chính trị của BCH Đảng bộ huyện khóa VIII (09-06-2010)

Để lấy ý kiến rộng rãi trong quần chúng nhân dân, cán bộ công nhân viên chức, công chức huyện nhà đóng góp ý kiến vào dự thảo "Báo cáo chính trị của ban chấp hành Đảng bộ huyện khóa VIII trình Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện Hàm Tân lần thứ IX, nhiệm kỳ 2010-2015" để hoàn thiện nội dung trình trước Đại Hội.

Mọi thông tin, ý kiến đóng góp vào dự thảo có thể liên hệ trực tiếp với Văn phòng Huyện ủy Hàm Tân hoặc gửi mail, văn bản qua địa chỉ:

- Văn phòng Huyện ủy Hàm Tân, địa chỉ thị trấn Tân Nghĩa, Hàm Tân, Bình Thuận

- Điện thoại: 062.3877100, Email: huyenuy@hamtan.gov.vn

Nội dung dự thảo: Du thao 3, Bao cao chinh tri DH IX.doc

PHẦN THỨ NHẤT

TÌNH HÌNH THỰC HIỆN NGHỊ QUYẾT

ĐẠI HỘI ĐẠI BIỂU ĐẢNG BỘ HUYỆN LẦN THỨ VIII (2006-2010)       

            Thực hiện nhiệm vụ chính trị nhiệm kỳ 2006-2010 trong điều kiện tình hình chính trị xã hội ổn định, sự nghiệp đổi mới tiếp tục đạt được những thành tựu quan trọng, bộ mặt xã hội được khởi sắc, đời sống vật chất tinh thần của nhân dân từng bước được nâng lên ....Tuy nhiên, khó khăn cũng còn nhiều, đặc biệt khó khăn do ảnh hưởng khủng hoảng và suy giảm kinh tế toàn cầu, tình hình thời tiết, dịch bệnh diễn biến bất thường, điểm xuất phát nền kinh tế thấp... Song, Đảng bộ và nhân dân huyện nhà đã đoàn kết nổ lực, phấn đấu thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ VIII đạt kết quả khá toàn diện.

            I- NHỮNG KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC NỔI RÕ

            1- Nền kinh tế tiếp tục phát triển, vượt qua nhiều khó khăn, thách thức, tốc độ tăng trưởng khá và phát triển tương đối toàn diện

            Tổng sản phẩm nội huyện (GDP) tăng khá, bình quân 5 năm 2006-2010 đạt 13,2%; GDP bình quân đầu người năm 2010 đạt 704/640 USD, gấp 2,54 lần so với năm 2005. Nhiều chỉ tiêu quan trọng đạt và vượt, một số chỉ tiêu hoàn thành sớm hơn thời gian Nghị quyết Đại hội VIII đề ra (1)

            (1) GDP nhóm ngành nông – lâm – ngư nghiệp tăng 7,93%; công nghiệp - xây dựng tăng 16,33%; dịch vụ tăng 17,28%. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng, đến năm đến 2010 tỷ trọng nhóm ngành nông-lâm-ngư nghiệp đạt 33,6% (KH 32,86%); công nghiệp-xây dựng 24,90% (KH 23,98%); dịch vụ 41,50% (KH 43,16%). Thu ngân sách nhà nước hàng năm đều vượt chỉ tiêu tỉnh giao và vượt chỉ tiêu phấn đấu của huyện, tăng bình quân 41,46%/năm (KH 30%). Tỷ lệ chi đầu tư phát triển bình quân hàng năm chiếm 21,16% (KH 25%) tổng chi ngân sách địa phương. Năm 2008 đạt chuẩn quốc gia về phổ cập  giáo dục THCS và phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi. Giải quyết việc làm bình quân 1.984 người/năm, năm 2010 giải quyết việc làm 2.500 lao động (KH 1.500-2.000). Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên 1,10% (KH 1,14%); 9/10 xã đạt chuẩn quốc gia về y tế (KH 80%); tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng còn 14% (KH <15%); tỷ lệ hộ nghèo còn 5%, đạt 100% KH; huy động trẻ em đến tuổi ra lớp hàng năm 100%; tỷ lệ hộ có điện thắp sáng, sử dụng nước sạch đạt 95% (KH 95%).

1.1. Sản xuất nông lâm ngư nghiệp tiếp tục phát triển theo hướng nâng chất lượng, hiệu quả

Chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi chuyển biến khá tích cực, đưa vào sản xuất nhiều loại giống mới năng suất cao, nhiều loại cây trồng lợi thế như điều, mía, bắp lai, mỳ, hình thành một số vùng cây công nghiệp, cây ăn quả. Sản lượng lương thực tăng bình quân 2,98%/năm, năm 2010 đạt 26.000/25.650 tấn, tăng 3.647 tấn so với năm 2006. Quan tâm chỉ đạo ứng dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp, các khâu làm đất trong nông nghiệp được cơ giới hóa trên 90%, triển khai xây dựng nhiều mô hình trình diễn, ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ phục vụ sản xuất nông nghiệp, hạn chế được các dịch bệnh, tăng hiệu quả sản xuất và thu nhập trên một đơn vị diện tích; nhiều công trình thủy lợi lớn được đầu tư (2). Chăn nuôi đàn gia súc, gia cầm tiếp tục duy trì và phát triển. Chất lượng đàn được nâng lên theo quy mô chăn nuôi hàng hóa, khuyến khích phát triển chăn nuôi theo hướng công nghiệp, bán công nghiệp, từng bước thay dần chăn nuôi nhỏ lẻ. Hoạt động thú y, kiểm soát giết mổ gia súc, gia cầm từng bước đi vào nề nếp (3). Lĩnh vực lâm nghiệp đang chuyển mạnh theo hướng xã hội hóa, nâng tỷ lệ che phủ của rừng lên 45,2% tính luôn diện tích cây lâu năm (4). Giao khoán, quản lý bảo vệ rừng, phòng chống cháy rừng được chú ý. Kinh tế thủy sản có bước phát triển, số lượng tàu thuyền tăng, sản lượng khai thác tăng bình quân 30,38%/năm, năm 2010 đạt kế hoạch 1.100/1.100 tấn; công tác bảo vệ nguồn lợi thủy sản, tuyên truyền giáo dục, kiểm tra, kiểm soát trên biển được chú trọng. Nuôi trồng thuỷ sản được quan tâm đầu tư phù hợp với nhu cầu thị trường và điều kiện sinh thái, mang lại hiệu quả kinh tế (5).

            (2) Diện tích gieo trồng cây hàng năm tăng bình quân 5,95%/năm, năm 2010 đạt 19.900/17.980 ha, trong đó lúa 1.180 ha, bắp 4.020 ha, cây mì 6.000 ha, mía 3.000 ha. Diện tích cây lâu năm tăng bình quân 9,96%/năm, năm 2010 đạt 10.550/11.786 ha, trong đó cây cao su 5.000 ha, cây điều 3.350 ha, cây ăn quả 2.200 ha. Sản lượng cây lúa 4.500 tấn, bắp 21.500 tấn; sản lượng một số cây trồng khác: khoai mì 158.250 tấn, cây chất bột khác 8.310 tấn, tăng bình quân 3,93%/năm, mía 131.600 tấn, tăng 4,15%/năm; điều 2.300 tấn, tăng 18,54%/năm, cao su 2.030 tấn, tăng 89,76%/năm; cây ăn quả 10.028 tấn. Năng suất cây lúa tăng 13,3 tạ/ha, mía tăng 16,3 tạ/ha, mỳ tăng 12,5 tạ/ha so với năm 2006. Đầu tư xây dựng công trình đập dâng Sông Phan, Hồ chứa nước Sông Dinh 3, tổng dự toán đầu tư trên 992 tỷ đồng.

(3) Tổng đàn bò 20.000 con tăng 4,5%/năm; đàn trâu 435 con, tăng 1,29%/năm; đàn heo 50.000 con tăng 25,13%/năm, đàn dê 4.500 con, tăng 10,8%/năm; đàn gia cầm 200.000 con tăng 11,66%/năm; 24 trại chăn nuôi tập trung (gồm 20 trại heo, 04 trại gà).

(4) 5 năm trồng rừng 4.968 ha (KH 5.150 ha), nâng diện tích có rừng lên 15.078 ha, tỷ lệ che phủ đạt 20,42%, nếu tính cả cây lâu năm đạt 45,21% (KH 60%). Sản lượng khai thác gỗ 278.455 m3 (KH 600.000 m3).

(5) Năng lực đánh bắt toàn huyện có 228 thuyền, tăng 2,2 lần, tổng công suất 3.408 CV, tăng 1,7 lần so kế hoạch, bình quân 14,9 CV/thuyền. Diện tích nuôi nước lợ 170/285 ha, nước ngọt 50/130 ha, sản lượng nuôi trồng đạt 1.485 tấn.

Tiếp tục đầu tư phát triển toàn diện dân sinh kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS. Đã khai hoang và cấp 484,2 ha đất sản xuất cho 358 hộ; giao khoán bảo vệ rừng 1.622 ha. Hầu hết đất cấp đưa vào sản xuất, không để hoang hóa; ý thức quản lý, bảo vệ rừng được nâng lên. Triển khai khá tốt hợp đồng đầu tư ứng trước các loại giống cây trồng, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật và thu mua nông sản cho đồng bào. Tình hình các mặt vùng đồng bào DTTS có nhiều khởi sắc, tỷ lệ hộ nghèo giảm đáng kể. Hệ thống chính trị được củng cố, kiện toàn, hiệu quả hoạt động được nâng lên. An ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội cơ bản được giữ vững. Lòng tin của đồng bào đối với Đảng, Nhà nước tiếp tục được củng cố tốt hơn (6).

1.2 Sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp phát triển khá, nhất là các lĩnh vực sản xuất vật liệu xây dựng, chế biến sản phẩm mía đường, khai khoáng, sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ… Giá trị sản xuất tăng bình quân 11,36%/năm, năm 2010 đạt 75 tỷ đồng tăng 1,71 lần so với đầu nhiệm kỳ. Việc đổi mới công nghệ, nâng cao chất lượng và sức cạnh tranh của các sản phẩm lợi thế bước đầu được các doanh nghiệp quan tâm thực hiện. Hoàn thành quy hoạch  KCN Sơn Mỹ 1, KCN Sơn Mỹ 2, KCN Tân Đức với tổng diện tích 3.474 ha và được Chính phủ đưa vào danh mục các khu công nghiệp trên toàn quốc đến năm 2015. Hoàn thành quy hoạch các cụm CN-TTCN Tân Nghĩa, Tân Minh, Thắng Hải, Sông Phan với tổng diện tích 365 ha (7).

Đầu tư xây dựng nông thôn mới gắn với phát triển kinh tế làng nghề được quan tâm chỉ đạo. Hệ thống giao thông, các công trình nước sinh hoạt, chương trình điện khí hóa nông thôn ở nhiều xã được đầu tư xây dựng và phát huy tác dụng tốt, số hộ sử dụng điện xấp xỉ 95%. Các loại ngành nghề, dịch vụ phục vụ sản xuất, đời sống nông thôn tăng khá so với năm 2006, đời sống nông dân được nâng lên đáng kể. Hiện có 04 làng nghề truyền thống (03 làng nghề chế biến mía đường, 01 làng nghề đan lát thủ công) được công nhận. 03/05 dự án sản xuất gạch tuynel đi vào hoạt động, 01/09 cơ sở sản xuất gạch xin chuyển đổi sang công nghệ lò Hoffman đi vào hoạt động.

            1.3 Các ngành thương mại, dịch vụ, du lịch từng bước phát triển đáp ứng ngày càng cao sự phát triển của thị trường

            (6) Đầu tư xây dựng nhiều công trình giá trị trên 22 tỷ đồng; xây dựng 430 căn nhà cho hộ nghèo DTTS, với tổng kinh phí 4,04 tỷ đồng. Các thiết chế văn hoá, các điều kiện phục vụ cho công tác văn hoá, văn nghệ được đầu tư giúp bà con bảo tồn những nét văn hóa của cộng đồng mình, tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại, xóa bỏ các hủ tục lạc hậu.

            (7) UBND tỉnh cho phép đầu tư hạ tầng KCN Sơn Mỹ I, Sơn Mỹ 2, KCN Tân Đức, cụm CN Nghĩa Hoà-Tân Nghĩa, Thắng Hải giai đoạn 01, cấp giấy chứng nhận đầu tư 10 dự án sản xuất công nghiệp.

Hoạt động thương mại tiếp tục phát triển khá ổn định, hoàn thành quy hoạch phát triển mạng lưới chợ, quy hoạch hệ thống bán xăng dầu trên địa bàn huyện. Chợ xã Tân Xuân, Sơn Mỹ, thị trấn Tân Minh hoàn thành đưa vào sử dụng chợ Tân Phúc đang trong giai đoạn hoàn thiện, tổng mức đầu tư trên 15 tỷ đồng từ nguồn vốn ngân sách và huy động sức đóng góp của các tiểu thương; chợ Tân Đức, Tân Hà, Tân Thắng, Thắng Hải, chợ trung tâm huyện đã lập hồ sơ và chuẩn bị đầu tư xây dựng. Công tác quản lý thị trường được tăng cường. Hoạt động giao thông vận tải tăng bình quân 14,31%, 3 tuyến xe buýt hoạt động hiệu quả. Dịch vụ bưu chính viễn thông, bảo hiểm… phát triển khá, số người sử dụng dịch vụ thông tin liên lạc tăng nhanh, việc ứng dụng công nghệ thông tin mang lại hiệu quả thiết thực (8).

            Hoạt động du lịch bước đầu có chuyển biến tích cực, 24 dự án xin đầu tư, trong đó UBND tỉnh cấp Giấy chứng nhận đầu tư 12 dự án với diện tích 665,6ha. Huyện đang tích cực chỉ đạo các ngành chức năng tập trung quản lý tốt vùng quy hoạch, tiến hành rà soát, sắp xếp các dự án đầu tư nằm dọc tuyến biển của 3 xã ven biển, đồng thời tạo thuận lợi, hỗ trợ các nhà đầu tư thực hiện dự án; tuy nhiên tiến độ triển khai còn chậm. Đến nay có 04 dự án đang triển khai đầu tư (Cổ Kim Mỹ Nghệ, Tự Cường, Tân Việt Phú, Minh Ngân), 03 dự án đang chuẩn bị đầu tư (Cát Vân, Lạc Việt, Cảnh Viên).

1.4 Tài chính, tín dụng:

Nhiệm vụ thu ngân sách được tập trung chỉ đạo tích cực, hàng năm thu ngân sách đều vượt chỉ tiêu, bình quân mỗi năm tăng 41,46%, năm 2010 thu đạt 62/45 tỷ đồng, tăng 3,39 lần so với năm 2006; tỷ lệ thu ngân sách trên GDP bình quân đạt 6,83% (KH 11-12%), góp phần tạo nguồn lực cho đầu tư phát triển và giải quyết các vấn đề xã hội bức xúc. Tổng chi ngân sách 512 tỷ đồng, trong đó chi đầu tư phát triển 108,3 tỷ đồng, chiếm 21,16%, thực hành tiết kiệm chi, chi đúng dự toán được duyệt, chi kịp thời, đầy đủ lương, các khoản có tính chất lương, các khoản cho giáo dục, y tế, đảm bảo cân đối ngân sách. Hoạt động tín dụng tiếp tục được mở rộng, triển khai tích cực có hiệu quả các chính sách kích cầu đáp ứng nhu cầu vay vốn phục vụ sản xuất và kinh doanh (9).

            (8) Số hộ kinh doanh thương mại, dịch vụ tăng 2,53 lần so với năm 2005 (1.182hộ/467hộ). 10 xã, thị trấn đều có điểm bưu điện văn hóa, phủ sóng điện thoại di động, bình quân 12,8 máy điện thoại cố định/100 dân (KH 12-14 máy/100 dân), tăng 2,5 lần so với năm 2006.

            (9) Chi nhánh Ngân hàng NN&PTNT có tổng nguồn vốn 209,17 tỷ đồng, dư nợ 205 tỷ. Ngân hàng chính sách xã hội có tổng nguồn vốn 107 tỷ đồng, dư nợ 82,6 tỷ/10.120 hộ. Quỹ tín dụng Tân Xuân hoạt động khá, có 1.310 thành viên góp vốn, tổng vốn hoạt động 19,5 tỷ đồng, tổng dư nợ 17,4 tỷ đồng. Vay lĩnh vực sản xuất nông ngư nghiệp chiếm 81%, công thương nghiệp 13,8%.

1.5 Công tác quy hoạch và đầu tư phát triển:

Quy hoạch đầu tư kết cấu hạ tầng phát triển kinh tế - xã hội được tập trung chỉ đạo, hoàn thành quy hoạch tổng thể kinh tế xã hội đến năm 2020; quy hoạch chi tiết trung tâm huyện lỵ, trung tâm các xã Thắng Hải, Tân Đức, Tân Phúc, Sông Phan, thị trấn Tân Minh; quy hoạch phát triển các ngành nông, lâm, nghiệp; giao thông, điện, sử dụng đất đai, khu dân cư ở các xã, thị trấn phục vụ yêu cầu đầu tư phát triển. Thành lập thị trấn Tân Nghĩa đô thị loại V; chia tách xã Tân Thắng thành 02 xã Tân Thắng và Thắng Hải theo hướng đưa xã Tân Thắng (mới) phát triển lên đô thị loại V khi đủ điều kiện. Tổng vốn đầu tư phát triển từ nguồn ngân sách trong 04 năm 2006-2009 đạt 94,33 tỷ đồng, trong đó chủ yếu đầu tư kết cấu hạ tầng, đường giao thông nông thôn, thông tin liên lạc, thủy lợi, điện chiếu sáng công cộng, hạ tầng khu dân cư, cơ sở vật chất giáo dục, y tế, đầu tư hạ tầng dân sinh kinh tế vùng đồng bào DTTS, một số công trình trọng điểm trong khu trung tâm hành chính huyện...(10).

            1.6 Công tác quản lý tài nguyên - môi trường:

Hoàn thành quy hoạch sử dụng đất đến năm 2010, kế hoạch sử dụng đất giai đoạn 2006- 2010 của huyện và 10 xã, thị trấn. Công tác bồi thường giải tỏa, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được quan tâm chỉ đạo. Công tác quản lý tài nguyên môi trường - khoáng sản đảm bảo theo phê duyệt quy hoạch bổ sung các mỏ khoáng sản trên địa bàn huyện (11). Quy hoạch bãi rác, nghĩa trang huyện. Tuyên truyền, giáo dục nâng cao ý thức trách nhiệm của các cấp, các ngành và các tầng lớp nhân dân về bảo vệ môi trường. Tăng cường công tác kiểm tra, xử lý các trường hợp vi phạm, bước đầu đã hạn chế thấp nhất tình hình khai thác đất, cát, sét trái phép trên địa bàn huyện; đặc biệt đã ngăn chặn kịp thời việc khai thác cát đen trái phép ở địa bàn 3 xã ven biển.

1.7 Khuyến khích phát triển các thành phần kinh tế

Kinh tế tư nhân tiếp tục phát triển, đầu tư hầu hết trên các lĩnh vực sản xuất kinh doanh, nhất là các cơ sở thu mua nông sản, dịch vụ, thương mại, đóng

            (10) Thi công mới, nâng cấp, sửa chữa 20 tuyến đường giao thông chiều dài 49,52 km/33,64 tỷ đồng. Mạng lưới điện quốc gia được nâng cấp phủ đến 10 xã, thị trấn, đầu tư 33,184 km đường dây trung thế, 112,239 km đường dây hạ thế, 62 trạm biến áp với tổng dung lượng 1.904,5 KVA, nâng cấp trạm biến áp 110/22KV Hàm Tân từ 25 MVA lên 40 MVA (KH từ 25 lên 50 MVA)

(11) Cấp giấy CNQSDĐ 05 năm (2006 -2010) 14.067,9 ha (đất nông nghiệp 13.965,7 ha, đất ở 102,19ha) vượt chỉ tiêu. Hoàn thành cơ bản cấp giấy CNQSDĐ đối với đất đang sử dụng ổn định theo Nghị quyết lần thứ 7 của BCHTW khoá IX và Kế hoạch 43 của Huyện ủy khoá VIII. 100% cơ sở khai thác chế biến khoáng sản, 70% cơ sở sản xuất kinh doanh cam kết bảo vệ môi trường.

góp ngày càng nhiều vào sự phát triển kinh tế xã hội và nguồn thu ngân sách nhà nước, giải quyết nhiều việc làm cho nhân dân. Kinh tế trang trại phát triển cả về số lượng và quy mô; có 189 trang trại, với diện tích 1.647 ha, tổng vốn đầu tư 130 tỷ đồng, tăng 45 trang trại, 379 ha, 78,2 tỷ vốn đầu tư; quy mô các trang trại được mở rộng, đa dạng góp phần quan trọng chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp. Hoạt động của Ngân hàng, Bảo hiểm, Bưu điện được phát huy tốt, Quỹ tín dụng Tân Xuân hoạt động có hiệu quả.

2- Sự nghiệp giáo dục - đào tạo, khoa học công nghệ tiếp tục được chăm lo, phát triển khá nhanh và tương đối toàn diện

- Cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ dạy và học của các bậc học, ngành học được quan tâm đầu tư tốt hơn trước; không còn tình trạng học ca ba, cơ bản xóa các lớp học tạm bợ, mạng lưới trường lớp được bố trí khắp các địa bàn dân cư. Nhiều trường Trung học cơ sở, Tiểu học và Trung học phổ thông được xây mới theo hướng xây dựng trường đạt chuẩn. 10 xã, thị trấn có trung tâm học tập cộng đồng đã đưa vào hoạt động. Trung tâm dạy nghề hoạt động ổn định, bước đầu tham gia đào tạo, bồi dưỡng một số ngành nghề phổ thông. Chất lượng giáo dục các bậc học được giữ vững, từng bước nâng cao. Tỷ lệ học sinh lên lớp thẳng, tốt nghiệp tiểu học, THCS, THPT hằng năm luôn bằng và cao hơn mức bình quân chung của tỉnh. Huy động trẻ 06 tuổi vào lớp 01 hàng năm đạt 100%. Duy trì chuẩn quốc gia về phổ cập tiểu học - chống mù chữ, phổ cập tiểu học đúng độ tuổi và phổ cập THCS. Công tác khuyến học, khuyến tài được chú trọng (12).

- Hoạt động khoa học công nghệ có bước chuyển nhất định thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương; công tác quản lý, tổ chức hoạt động khoa học công nghệ từng bước được tăng cường và chú ý hơn, đội ngũ trí thức khoa học công nghệ có bước phát triển; hoạt động khoa học công nghệ có sự gắn kết với hoạt động khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư, khuyến công, tổ chức nhiều mô hình ứng dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất và đời sống; ứng dụng công nghệ thông tin được quan tâm đầu tư mở rộng từ huyện, xã đến các doanh nghiệp và trong nhân dân, góp phần cải tiến lề lối làm việc, nâng cao hiệu quả công tác lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp, các ngành và doanh nghiệp. Kết nối mạng nội bộ của Đảng đến 10 xã, thị trấn.

            (12) Xây mới 03 trường Tiểu học, 07 trường THCS, 01 trường THPT. Toàn huyện có 37 trường, 548 lớp, 850 giáo viên, tăng 07 trường, 12 lớp, 149 giáo viên. Có 03 trường tiểu học, 01 trường THCS đạt chuẩn quốc gia mức độ 01 (KH: 2 trường Mẫu giáo, 3 Tiểu học, 1 THCS). Vận động quỹ Khuyến học 2,431 tỷ đồng, trao học bổng 2.446 suất/475,8 triệu, khen thưởng 2.213 suất/221,3 triệu.

3- Các chính sách an sinh xã hội được tập trung thực hiện, một số vấn đề xã hội bức xúc được tập trung chỉ đạo giải quyết, đời sống các tầng lớp nhân dân được cải thiện; văn hóa xã hội tiếp tục chuyển biến tích cực

- Giải quyết việc làm được quan tâm chỉ đạo với nhiều giải pháp tích cực, trong 5 năm giải quyết việc làm 9.921 lượt lao động, tăng 14,45%/năm.

- Công tác chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho các tầng lớp nhân dân nhất là đồng bào dân tộc thiểu số, hộ nghèo, gia đình chính sách, gia đình có công cách mạng chuyển biến tích cực. Thực hiện tốt chế độ chính sách bảo trợ, bảo hiểm y tế cho người nghèo. Quan tâm xây dựng nhà ở cho đối tượng chính sách, người nghèo, cơ bản xóa nhà ở tạm bợ dột nát (13). Đối tượng chính sách thuộc diện hộ nghèo đượcquan tâm giảm đáng kể.

- Công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân có nhiều cố gắng, chất lượng khám chữa bệnh được nâng lên, cơ sở vật chất, trang thiết bị được đầu tư, tích cực đào tạo nguồn nhân lực. Chủ động phòng chống có hiệu quả một số dịch bệnh nguy hiểm. Các chương trình y tế quốc gia thực hiện đạt và vượt chỉ tiêu hàng năm. 9/10 xã đạt chuẩn quốc gia về y tế. Thực hiện tốt chương trình dân số - kế hoạch hóa gia đình, giảm tỷ lệ sinh; tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng còn 14% (14).

- Phong trào “TDĐKXDĐSVH” được mở rộng. Chú ý đầu tư các thiết chế văn hóa nhằm duy trì bản sắc văn hóa đồng bào các dân tộc thiểu số. Duy trì thường xuyên hoạt động thông tin, tuyên truyền. Phong trào văn hóa văn nghệ, TDTT quần chúng tiếp tục được phát triển. Công tác quản lý nhà nước trên lĩnh vực văn hóa được quan tâm (15).

4- Quốc phòng được tăng cường, an ninh chính trị, trật tự xã hội được bảo đảm

Công tác quân sự, quốc phòng địa phương được triển khai thực hiện đạt kết quả khá toàn diện trên các mặt. Các nhiệm vụ xây dựng khu vực phòng thủ, sẵn sàng chiến đấu, xây dựng lực lượng vũ trang địa phương, xây dựng nền quốc

(13) Tỷ lệ hộ nghèo giảm đáng kể từ 17,22% năm 2006 xuống còn 7,4% năm 2009, dự kiến cuối năm 2010 giảm còn 5%, đạt 100%KH; hỗ trợ xây dựng 1.059 căn nhà cho hộ nghèo/trên15 tỷ đồng. Vận động quỹ ĐƠĐN 1,232 tỷ đồng, quỹ vì người nghèo 10,796 tỷ đồng.

(14) Hình thành 12 cơ sở y tế/113 giường, tăng 04 cơ sở/68 giường, trong đó có 01 Bệnh viện tạm/50 giường, 01 Trung tâm YTDP, 01 phòng khám khu vực/20 giường, 09 trạm y tế xã, thị trấn/43 giường; đang thi công xây dựng bệnh viện 100 giường. Tỉ lệ sinh con thứ 3 còn 15,3%.

(15) Hộ gia đình văn hóa đạt 81,13%, 18/53 thôn, khu phố văn hoá, đạt 33,9% (KH 65%), 28/53 thôn, khu phố đạt khu dân cư tiên tiến, 33/53 thôn có trụ sở, 05/10 xã xây dựng xã văn hoá (KH 1-2 xã), 85% cơ quan đạt nếp sống văn minh (KH 100%). Phủ sóng truyền thanh đến 100% thôn, khu phố.

phòng toàn dân, huấn luyện chiến đấu giáo dục quốc phòng - an ninh và giao quân hàng năm đều hoàn thành tốt. Chất lượng chính trị trong dân quân tự vệ được nâng lên, tỷ lệ đảng viên đạt 16%, tăng 6,86%, đoàn viên đạt 40%, tăng 9,86% đảng viên trong lực lượng dự bị đạt 6%, tăng 0,39% so đầu nhiệm kỳ.

Nhiệm vụ giữ gìn an ninh chính trị, bảo đảm trật tự an toàn xã hội luôn được coi trọng và chỉ đạo thường xuyên, tích cực, đồng bộ gắn với nhiệm vụ chính trị của địa phương; tình hình an ninh chính trị luôn được giữ vững ổn định, không để xảy ra đột biến xấu. Trật tự, an toàn xã hội, phong trào toàn dân bảo vệ an ninh tổ quốc được quan tâm củng cố và đạt được tiến bộ rõ nét. Công tác quản lý nhà nước về an ninh trật tự, đấu tranh phòng, chống các tội phạm được đẩy mạnh thường xuyên; tai nạn giao thông được kìm chế và giảm trên cả 3 mặt góp phần thực hiện có hiệu quả mục tiêu “3 giảm”.

Hoạt động của các cơ quan tư pháp có nhiều chuyển biến tiến bộ cả trong phối hợp nắm, xử lý tin báo tố giác tội phạm, khởi tố vụ án, bắt, tạm giữ, tạm giam. Chất lượng công tác điều tra, truy tố, xét xử từng bước được nâng lên. Công tác tuyên truyền phổ biến pháp luật, công tác thi hành án dân sự có nhiều cố gắng. Công tác giải quyết đơn thư khiếu nại tố cáo được quan tâm lãnh đạo, giải quyết được nhiều vụ việc khiếu kiện phức tạp, nổi cộm.

5- Công tác xây dựng chính quyền và cải cách hành chính:

Hoạt động HĐND huyện, xã, thị trấn đi vào nề nếp, chất lượng các kỳ họp được nâng lên, công tác tiếp xúc cử tri được chú trọng, phát huy tốt vai trò giám sát; hoàn thành việc sắp xếp các cơ quan thuộc UBND huyện; thành lập thị trấn Tân Nghĩa, xã Thắng Hải và 04 thôn mới, nâng tổng số lên 53 thôn, khu phố; sắp xếp, bố trí đội ngũ CBCC xã, thị trấn theo Nghị quyết 11 của Tỉnh ủy khóa X từng bước đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trước mắt cũng như lâu dài (16).

Công tác cải cách hành chính được xác định là một trong những công tác trọng tâm, đặc biệt là cải cách thủ tục hành chính theo cơ chế “một cửa”, “một cửa liên thông” gắn với chú trọng kiểm tra việc thực hiện. Duy trì thường xuyên lịch tiếp công dân. Chỉ đạo thực hiện tốt quy chế dân chủ cơ sở theo Pháp lệnh số 34 của Uỷ Ban Thường vụ Quốc hội khoá XI. Công tác phòng, chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm chống lãng phí thường xuyên được chỉ đạo, xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm.

(16) Đến nay cấp huyện có 107 CBCC, tăng 55 CBCC; chuyên môn Đại học 65, chiếm 57%, cao đẳng 8, chiếm 7,48%, trung cấp 34, chiếm 31,78%; chính trị cao cấp 11, chiếm 10,28%, trung cấp 19, chiếm 17,76%. Cấp xã có 87 công chức, tăng 24 công chức; chuyên môn từ trung học trở lên có 80, chiếm 91,96%, qua đào tạo chính trị 38, chiếm 43,69%.

6- Phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tích cực đổi mới phương thức hoạt động của Mặt trận, các đoàn thể:

Công tác vận động quần chúng tiếp tục chuyển biến tích cực, tập hợp 82,89% quần chúng vào các tổ chức đoàn thể, xây dựng và phát triển cốt cán chính trị chú ý chất lượng hơn (17). Các phong trào thi đua yêu nước do Mặt trận, đoàn thể tổ chức thực hiện có hiệu quả, phát huy quyền làm chủ, huy động các nguồn lực xây dựng nhiều công trình phúc lợi phục vụ dân sinh kinh tế. Giải quyết cho 9.816 lượt đoàn viên, hội viên vay vốn phát triển sản xuất với số tiền từ các nguồn vốn là 92,736 tỷ đồng, đến nay các nguồn vốn vay được quản lý tốt, người vay sử dụng có hiệu quả. 

7- Công tác xây dựng Đảng:

- Công tác giáo dục chính trị tư tưởng luôn được quan tâm chỉ đạo, chất lượng, hiệu quả từng bước được nâng lên. Coi trọng việc giáo dục Chủ nghĩa Mác Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, các chủ trương, nghị quyết của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước cho cán bộ, đảng viên. Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” được tập trung chỉ đạo nghiêm túc, kịp thời và đều khắp, theo quy trình, có trọng tâm, trọng điểm (18). Qua học tập nhận thức chính trị, tư tưởng, đạo đức lối sống trong cán bộ, đảng viên và nhân dân được nâng lên; tinh thần đoàn kết thống nhất trong nội bộ, sự đồng thuận trong xã hội ngày càng tốt hơn; ý thức trách nhiệm, tinh thần thái độ phục vụ nhân dân của cán bộ, đảng viên có chuyển biến tích cực, xuất hiện ngày càng nhiều tập thể, cá nhân điển hình tiên tiến.

- Các loại hình tổ chức cơ sở Đảng tiếp tục được sắp xếp, củng cố, xác định chức năng, nhiệm vụ phù hợp trong điều kiện mới. Trong nhiệm kỳ đã nâng chi bộ lên đảng bộ ở các xã Sông Phan, Tân Hà, Tân Phúc, Sơn Mỹ và thành lập mới Đảng bộ xã Thắng Hải. Tổ chức cơ sở đảng phát huy tốt vai trò hạt nhân lãnh đạo chính trị ở cơ sở. Công tác đánh giá chất lượng tổ chức cơ sở Đảng, đảng viên được thực hiện có chiều sâu, đúng thực chất không chạy theo thành tích; năm 2006 có 26% TCCSĐ đạt trong sạch vững mạnh, 26% TCCSĐ yếu kém, đến năm 2009 có 50% TCCSĐ TSVM, không có cơ sở đảng yếu kém.

            (17) Trong nhiệm kỳ phát triển 15.034 ĐV-HV, nâng tổng số lên 43.184 ĐV-HV, chiếm 82,89% tổng số quần chúng (KH 65-70%); xây dựng và phát triển 1.149 cốt cán chính trị, chiếm 2,66% so tổng số đoàn viên, hội viên;100% đoàn thể vững mạnh, không có tổ chức yếu kém (KH 75-80%). 

            (18) Hoàn thành kế hoạch mở lớp hàng năm, từ 2006-2009 mở 186 lớp/13.979 lượt cán bộ đảng viên tham gia học tập. Khen thưởng 8 tập thể, 18 cá nhân tiêu biểu có thành tích tốt trong 3 năm thực hiện Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”.

            Công tác phát triển đảng thường xuyên được chú trọng, từ năm 2006 - 2010 phát triển 350 đảng viên mới (KH 50-55 đ/c/năm); tỷ lệ đảng viên trẻ, nữ, đảng viên ở khu vực địa bàn dân cư tăng. Công tác bảo vệ chính trị nội bộ được tăng cường. Các quy chế phối hợp được tổ chức thực hiện thường xuyên, hiệu quả. Công tác quy hoạch, luân chuyển, đào tạo, bồi dưỡng, bố trí, bổ nhiệm và thực hiện chính sách cán bộ được quan tâm; công tác cán bộ nữ bước đầu được chú ý tăng cường, đội ngũ cán bộ xã, thị trấn, cán bộ trẻ, cán bộ dân tộc thiểu số được đào tạo, bồi dưỡng có bước trưởng thành về nhiều mặt. Đội ngũ cán bộ lãnh đạo cấp huyện cơ bản được chuẩn hóa. Trình độ chuyên môn nghiệp vụ, lý luận chính trị, ý thức trách nhiệm được nâng lên, so với đầu nhiệm kỳ công tác tổ chức, bộ máy, đội ngũ cán bộ của hệ thống chính trị được sắp xếp bố trí về cơ bản đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ (19).

- Thường xuyên kiểm tra, giám sát việc chấp hành chỉ thị, nghị quyết, Điều lệ Đảng trong các tổ chức cơ sở Đảng và đảng viên. Qua kiểm tra, giám sát thúc đẩy ý thức trách nhiệm của các ngành, các cấp phấn đấu hoàn thành nhiệm vụ. Xử lý đảng viên vi phạm được tiến hành kịp thời, chính xác, đúng quy trình, đảm bảo nguyên tắc, mang tính giáo dục và giữ nghiêm kỷ luật Đảng (20).

- Tập trung chỉ đạo đổi mới phương thức xây dựng Đảng; quan tâm giáo dục, đấu tranh, phòng ngừa suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức phẩm chất lối sống đạt kết quả bước đầu. Những vụ việc nổi cộm, tồn đọng được rà soát, xem xét giải quyết có kết quả, tạo niềm tin cho cán bộ, đảng viên và nhân dân.

II- NHỮNG YẾU KÉM, KHUYẾT ĐIỂM ĐÁNG QUAN TÂM:

            1- Tăng trưởng GDP chưa vững chắc; cơ cấu kinh tế, cơ cấu trong nội bộ ngành, từng lĩnh vực chuyển dịch còn chậm. GDP bình quân đầu người tăng khá nhưng so với mặt bằng chung của tỉnh còn thấp. Triển khai công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn còn khó khăn, hạn chế...

- Trên lĩnh vực nông nghiệp: Công tác chỉ đạo chuyển đổi cơ cấu cây trồng chưa quyết liệt, ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ, nhất là các loại giống mới chưa nhiều nên năng suất, sản lượng cây trồng vật nuôi tăng chậm, sức cạnh tranh yếu. Nuôi trồng, khai thác, chế biến thuỷ sản còn nhiều khó khăn.

 (19) Năm 2010 Đảng bộ huyện có 825 đảng viên, 40 chi, đảng bộ cơ sở, 90 chi bộ trực thuộc; tăng 380 đảng viên, 16 TCCSĐ, 43 chi bộ trực thuộc so với đầu nhiệm kỳ. Từ 2006-2009 cử 909 lượt cán bộ đảng viên tham gia các lớp đào tạo, từng bước chuẩn hoá đội ngũ cán bộ huyện và cơ sở.

(20) Trong nhiệm kỳ thành lập 34 đoàn kiểm tra, giám sát 113 lượt TCCSĐ về chấp hành thực hiện chỉ thị, nghị quyết; kiểm tra 237 lượt TCCSĐ, 804 lượt đảng viên về thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, đóng đảng phí, chế độ sinh hoạt, thi hành kỷ luật trong Đảng. Phát hiện 88 trường hợp đảng viên có dấu hiệu vi phạm, thi hành kỷ luật 44 đảng viên.

            - Công nghiệp - TTCN phát triển còn chậm so với yêu cầu và tiềm năng của huyện; trang thiết bị và công nghệ còn lạc hậu; các khu và cụm công nghiệp triển khai quá chậm gây mất lòng tin trong nhân dân về chuyển đổi cơ cấu kinh tế ở địa phương.

- Việc phát triển du lịch còn gặp nhiều khó khăn, nhất là trong công tác đền bù giải tỏa các dự án sau khi có chủ trương của tỉnh, chậm triển khai đầu tư, một số nhà đầu tư chưa thật sự có năng lực. Hoạt động thương mại, dịch vụ còn khiêm tốn, sản phẩm hàng hoá chưa đáp ứng nhu cầu thị trường.

- Việc bồi dưỡng khai thác tốt nguồn thu, huy động nguồn vốn trong nhân dân còn hạn chế. Tình hình thu, chi ngân sách có lĩnh vực chưa đảm bảo, thiếu chủ động, có khoản thu đạt thấp; công tác quản lý và giám sát chi có lúc, có nơi còn buông lỏng; công tác đầu tư tín dụng cho vay chưa được mở rộng…

- Đầu tư kết cấu hạ tầng tuy có nhiều cố gắng nhưng vẫn chưa đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội; một số công trình thiết yếu triển khai thi công chậm, kéo dài do vốn đầu tư thiếu; công tác đền bù giải tỏa gặp nhiều trở ngại; năng lực thi công một số đơn vị yếu, chất lượng một số công trình còn kém. Quy hoạch phát triển và quản lý đô thị còn nhiều hạn chế. Chất lượng lập, xét duyệt quy hoạch xây dựng đô thị còn yếu, chưa đồng bộ…

- Quy hoạch sử dụng đất chưa sát nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội; cấp giấy chứng nhận QSDĐ chưa đạt kế hoạch đề ra, kiểm tra sử dụng đất chưa được chú trọng, hiệu quả sử dụng đất chưa cao; Quản lý tài nguyên khoáng sản còn lỏng lẻo. Một số cơ sở sản xuất, chăn nuôi gia súc gia cầm xử lý chất thải chưa bảo đảm về quy định bảo vệ môi trường.

- Đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào DTTS và một bộ phận dân cư nhìn chung còn khó khăn.

2- Về văn hóa - xã hội:

            Phổ cập trung học cơ sở có mặt chưa vững chắc. Một số trường, lớp chưa được kiên cố; chưa có phòng chức năng để đổi mới phương pháp giảng dạy; đội ngũ giáo viên đủ về số lượng nhưng chưa đồng bộ. Ứng dụng khoa học công nghệ chưa sâu rộng, hiệu quả mang lại chưa cao. Công tác chăm sóc, bảo vệ sức khỏe cho nhân dân còn nhiều bất cập, nhất là ở cơ sở; công tác quản lý hành nghề y dược còn buông lõng; nguồn nhân lực, cơ sở vật chất, trang thiết bị y tế kể cả tuyến cơ sở còn thiếu so với nhu cầu; tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên còn ở mức cao; công tác chăm sóc bảo vệ trẻ em ở cộng đồng dân cư còn nhiều hạn chế. Công tác văn hóa thông tin, TDTT chưa được đầu tư đúng mức. Quản lý các dịch vụ văn hóa chưa có biện pháp tích cực. Chất lượng phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa chưa cao, có nơi còn mang tính hình thức. Các thiết chế văn hóa thể thao ở cơ sở còn hạn chế. Giải quyết việc làm chưa căn bản, chưa có biện pháp tích cực và thiếu ổn định; tỷ lệ hộ nghèo còn ở mức cao, nhất là trong vùng đồng bào DTTS.

3- Về quốc phòng - an ninh:

Công tác nắm tình hình, quản lý địa bàn có lúc, có nơi chưa thật tốt, duy trì lực lượng trực sẵn sàng chiến đấu có lúc, có địa phương chưa nghiêm; chất lượng xây dựng và hoạt động của lực lượng dân quân tự vệ chưa cao, công tác  tuyên truyền giáo dục pháp luật, giáo dục quốc phòng toàn dân trong nhân dân chưa thường xuyên, sâu rộng.

Tình hình an ninh trật tự còn nhiều yếu tố phức tạp. Thế trận an ninh nhân dân, chất lượng phong trào quần chúng bảo vệ an ninh tổ quốc chưa sâu rộng, vững chắc. Tội phạm hình sự, tệ nạn xã hội, tai nạn giao thông tuy có giảm nhưng vẫn ở mức cao. Hiệu quả công tác phòng ngừa, đấu tranh trấn áp tội phạm còn một số hạn chế. Công tác quản lý nhà nước về an ninh, trật tự có lúc, có nơi chưa chặt chẽ.

4- Công tác xây dựng Đảng, chính quyền, Mặt trận, đoàn thể:

- Việc đổi mới nội dung, phương pháp và nâng cao chất lượng công tác chính trị tư tưởng kết quả chưa cao; chưa nắm chắc thực tế diễn biến tư tưởng trong cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân để định hướng dư luận xã hội; biện pháp, hình thức tuyên truyền còn đơn điệu, chưa mang tính thuyết phục cao; những biểu hiện về giảm sút ý chí phấn đấu, thiếu rèn luyện về phẩm chất đạo đức lối sống vẫn còn xảy ra trong một bộ phận cán bộ, đảng viên, chưa được đấu tranh khắc phục kịp thời.

- Xây dựng hệ thống chính trị ở hai cấp (huyện và xã) tuy có chú trọng nhưng chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ hiện nay. Năng lực lãnh đạo một số cấp uỷ cơ sở còn hạn chế, chưa phát huy vai trò hạt nhân chính trị ở cơ sở. Hiệu lực quản lý điều hành của chính quyền trên một số lĩnh vực còn hạn chế. Chất lượng hoạt động của Mặt trận, đoàn thể chưa cao.

- Công tác cán bộ còn gặp nhiều khó khăn; đội ngũ cán bộ vừa thừa, vừa thiếu; năng lực thực tiển trong công tác tham mưu, giải quyết công việc của một số cán bộ còn yếu cá biệt một còn số ít trách nhiệm chưa cao.

- Công tác kiểm tra, giám sát của các tổ chức cơ sở Đảng nhất là kiểm tra tổ chức đảng và đảng viên có dấu hiệu vi phạm chưa chủ động. Chưa gắn kiểm tra với nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng, nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên và Quy định 115 về những điều đảng viên không được làm. Công tác giám sát còn lúng túng; chưa phát huy hết vai trò của Mặt trận, đoàn thể và quần chúng nhân dân trong kiểm tra, giám sát đội ngũ cán bộ, đảng viên.

- Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” việc chuyển từ “học tập” sang“làm theo” chưa nhiều; chưa xuất hiện nhiều nhân tố mới trong đội ngũ cán bộ, đảng viên; phong trào hành động cách mạng diễn ra chưa thường xuyên, rộng khắp.

III- ĐÁNH GIÁ TỔNG QUÁT, BÀI HỌC KINH NGHIỆM:

 Thành tựu đạt được trong 5 năm qua tương đối toàn diện; các mục tiêu, nhiệm vụ và chỉ tiêu chủ yếu đều thực hiện đạt và vượt kế hoạch đề ra. Kinh tế tăng trưởng khá, năm sau cao hơn năm trước; văn hóa - xã hội có tiến bộ; đời sống vật chất, tinh thần của các tầng lớp nhân dân được nâng lên; cơ sở vật chất kỹ thuật được đầu tư đáng kể; quốc phòng - an ninh, trật tự an toàn xã hội được đảm bảo ổn định; dân chủ trong xã hội được mở rộng và ngày càng phát huy tốt; phong trào quần chúng được khơi dậy trên các lĩnh vực đời sống xã hội; hệ thống chính trị thường xuyên củng cố và tăng cường, năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở Đảng có sự chuyển biến, số lượng, chất lượng tổ chức Đảng được nâng lên. Những kết quả trên tạo tiền đề thúc đẩy tình hình các mặt của huyện phát triển nhanh và hiệu quả hơn trong thời gian đến.

Đạt được những kết quả trên nhờ có đường lối đổi mới đúng đắn của Đảng, sự quan tâm của lãnh đạo tỉnh và giúp đỡ của các Sở, Ngành; sự nỗ lực của các cấp các ngành, các tầng lớp nhân dân và sự đoàn kết thống nhất trong toàn Đảng bộ. Trong công tác lãnh đạo, điều hành luôn bám sát Nghị quyết, chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước để vận dụng lãnh đạo triển khai thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm từ huyện đến cơ sở; đó là nguyên nhân trực tiếp tạo nên thành quả kinh tế - xã hội trong nhiệm kỳ qua.

Tuy nhiên, chuyển biến tình hình các mặt của huyện chưa mạnh. Tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP) bình quân hằng năm còn chậm, chưa phát huy đúng mức tiềm năng và lợi thế của huyện; hạ tầng kỹ thuật kinh tế - xã hội còn nhiều khó khăn; tỷ lệ huy động GDP vào ngân sách còn thấp; một số vấn đề bức xúc về mặt xã hội giải quyết chưa căn bản, tỷ lệ hộ nghèo còn cao; đời sống của một số bộ phận nhân dân còn khó khăn; trật tự an toàn xã hội có lúc, có nơi còn diễn biến phức tạp; hiệu quả, hiệu lực hoạt động của hệ thống chính trị chưa cao; Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” chất lượng chưa đều, vẫn chưa đạt yêu cầu đề ra.

Những hạn chế trên ngoài khó khăn chung, điểm xuất phát nền kinh tế còn thấp, nguồn vốn cho đầu tư phát triển còn ít, nhận thức pháp luật trong một bộ phận nhân dân còn hạn chế. Việc quán triệt, cụ thể hóa, tổ chức thực hiện Nghị quyết Đại hội chưa sâu rộng và chỉ đạo có mặt chưa toàn diện. Năng lực lãnh đạo, quản lý điều hành của chính quyền và vai trò tham mưu của các ngành, các cấp trên một số mặt thiếu biện pháp tích cực; năng lực, trách nhiệm, phong cách làm việc, ý thức tổ chức kỷ luật của một số cơ quan và cán bộ chưa nghiêm; sự phối hợp giữa các cấp, các ngành trong thực hiện nhiệm vụ chưa tốt.

* Bài học kinh nghiệm:

- Trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo phải nắm vững và vận dụng sáng tạo các quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước, coi trọng việc học tập quán triệt đường lối, Nghị quyết của Đảng, chủ trương, kế hoạch của Nhà nước. Các cấp ủy phải xây dựng chương trình, giải pháp cụ thể cho từng nhiệm vụ, phân công trách nhiệm rõ ràng và kiểm tra đôn đốc chặt chẽ.

- Phải năng động, sáng tạo, dám nghĩ dám làm, dám chịu trách nhiệm. Phát huy cao độ nội lực, đẩy mạnh khai thác tiềm năng và lợi thế của địa phương. Mở rộng quan hệ, tranh thủ sự quan tâm đầu tư giúp đỡ từ các nguồn để phát triển nhanh nền kinh tế của Huyện.

- Trong lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện nhiệm vụ chính trị phải toàn diện, xác định được nhiệm vụ trọng tâm, những khâu trọng điểm trong từng thời gian, không chỉ đạo dàn đều, phân tán, kết hợp với tăng cường kiểm tra, giám sát.

- Coi trọng công tác xây dựng Đảng, trước hết phải làm tốt các khâu trong công tác cán bộ; chú trọng xây dựng đoàn kết thống nhất trong Đảng, tạo sự đồng thuận, tập trung, thống nhất trong hệ thống chính trị, trên dưới một lòng dưới sự lãnh đạo của Ban Chấp hành Đảng bộ huyện; phát huy dân chủ để phát huy khả năng chủ động, sáng tạo của đội ngũ cán bộ đảng viên đồng thời giữ nghiêm kỷ cương trong lãnh đạo, điều hành.

PHẦN THỨ HAI

PHƯƠNG HƯỚNG, NHIỆM VỤ 5 NĂM 2010-2015

I- MỘT SỐ NHẬN ĐỊNH TRONG NHIỆM KỲ 2010-2015:

Phát triển kinh tế - xã hội 05 năm 2010 - 2015 trong bối cảnh nền kinh tế trong nước đang gặp những khó khăn thách thức do hậu quả cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế thế giới; cơ sở kết cấu hạ tầng của huyện còn thiếu và chưa đồng bộ; đời sống của nhân dân ở một số vùng còn gặp khó khăn…

Tuy nhiên, dự báo giai đoạn 2010 - 2015 điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của huyện sẽ có nhiều thuận lợi do đặc thù là huyện nông nghiệp miền núi nên ít chịu ảnh hưởng của suy thoái kinh tế; các cơ chế, chính sách của Đảng và Nhà nước ngày càng hoàn thiện; nền kinh tế trong nước sẽ phát triển nhanh từ việc phục hồi và phát triển kinh tế sau cuộc khủng hoảng; nhiều dự án, công trình trọng điểm lớn trên địa bàn huyện đang trong giai đoạn triển khai sẽ đi vào hoạt động và phát huy tác dụng trong một vài năm tới; tiềm năng đất đai, lao động và lợi thế về điều kiện tự nhiên, những bài học kinh nghiệm của 5 năm qua... sẽ tạo ra những thuận lợi mới hết sức quan trọng cho phát triển nhanh và bền vững của địa phương.

II- MỤC TIÊU PHÁT TRIỂN:

1- Mục tiêu tổng quát:

Tiếp tục phát huy lợi thế cơ cấu kinh tế hiện nay là Nông, lâm, ngư nghiệp - Công nghiệp - Dịch vụ, ra sức huy động mọi nguồn lực, khai thác có hiệu quả tiềm năng và lợi thế của địa phương để chuyển dịch mạnh mẽ cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, đảm bảo đến cuối nhiệm kỳ định hình được cơ cấu kinh tế: Công nghiệp - Dịch vụ – Nông, lâm, ngư nghiệp; gắn phát triển kinh tế với giải quyết tốt những vấn đề xã hội bức xúc; giữ vững an ninh chính trị, TTATXH; xây dựng hệ thống chính trị, mà trước hết là xây dựng tổ chức cơ sở Đảng thật sự trong sạch vững mạnh, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ cách mạng trong giai đoạn mới, phấn đấu đưa huyện ta trở thành một huyện có nền kinh tế phát triển khá của tỉnh.

2- Nhiệm vụ chung:

- Tập trung thu hút mạnh mẽ các nguồn lực trong và ngoài địa phương nhằm phục vụ mục tiêu tăng trưởng kinh tế theo hướng tăng nhanh tỷ trọng công nghiệp - xây dựng - dịch vụ và tăng tỷ lệ chi cho đầu tư phát triển.

- Phát triển và nâng cao chất lượng giáo dục, y tế, văn hóa thể thao. Chú trọng giải quyết căn bản các vấn đề an sinh xã hội, nhất là các vấn đề xã hội bức xúc, ngăn chặn đẩy lùi các tệ nạn xã hội, giải quyết tốt tranh chấp và khiếu nại đất đai, bảo vệ môi trường.

- Tăng cường quốc phòng và an ninh, giữ vững ổn định chính trị - xã hội, chủ động phòng ngừa và kiên quyết tấn công trấn áp tội phạm, tiếp tục thực hiện tốt mục tiêu “3 giảm”.

- Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý điều hành của bộ máy nhà nước, tăng cường kỷ luật hành chính và pháp chế xã hội chủ nghĩa. Phát huy tốt vai trò của Mặt trận và các đoàn thể, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân vững chắc. Đẩy mạnh cải cách hành chính, cải cách tư pháp và chống tham nhũng.

3- Các chỉ tiêu chủ yếu:

- Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân hằng năm: 13 - 13,5%

Trong đó:

+ Nông, lâm, thuỷ sản tăng:                        7,2 - 7,5%

+ Công nghiệp - xây dựng tăng:    17,5 - 18%

+ Dịch vụ tăng:                                              14,4 - 15%

- Cơ cấu GDP đến năm 2015:                    100%

+ Công nghiệp - xây dựng:                         31,02%

+ Dịch vụ:                                                      45,05%

+ Nông lâm ngư nghiệp:                             23,93%

- GDP bình quân đầu người đến 2015: 1.525 USD

- Sản lượng lương thực đến 2015: 36.970 tấn

- Trồng rừng tập trung bình quân hàng năm: 1.000 ha

- Sản lượng khai thác thủy sản bình quân hàng năm: 1.285 tấn

- Thu ngân sách bình quân hàng năm tăng: 10-15%; năm 2015 đạt 100 tỷ đồng.

- Chi đầu tư phát triển bình quân trên tổng chi ngân sách: 30%

- Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên đến năm 2015: 1,12%

- Giải quyết việc làm hằng năm: 2.500 lao động

- Tỷ lệ hộ nghèo đến năm 2015: < 3%

- Tỷ lệ hộ sử dụng điện lưới quốc gia đến 2015: > 98%

- Tỷ lệ hộ dùng nước sạch đến 2015: > 90%

- Tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng đến 2015: 12%

- Phát triển đảng viên bình quân hàng năm: 60 đồng chí

- Đến năm 2015 có 70% tổ chức cơ sở Đảng TSVM, không có yếu kém 

III- NHỮNG NHIỆM VỤ TRỌNG TÂM VÀ GIẢI PHÁP:

1- Trên lĩnh vực kinh tế:

1.1 Lãnh đạo tổ chức thực hiện Quy hoạch phát triển sản xuất Nông - Lâm nghiệp và thủy sản huyện Hàm Tân đến năm 2020. Tiếp tục xây dựng, phát triển nền kinh tế nông nghiệp theo hướng hiện đại, bền vững; sản xuất hàng hóa có năng suất, chất lượng và khả năng cạnh tranh cao. Xây dựng nông thôn mới có kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội phát triển, cơ cấu ngành nghề và hình thức tổ chức sản xuất hợp lý; đời sống vật chất, tinh thần dân cư nông thôn từng bước được nâng lên. 

Đẩy mạnh tiến độ chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi theo hướng sản xuất hàng hóa chuyên canh, tập trung. Áp dụng mạnh mẽ tiến bộ khoa học công nghệ vào sản xuất. Đưa nhanh các loại giống mới có năng suất cao, chất lượng tốt, thích nghi với từng vùng vào sản xuất. Thâm canh tăng năng suất cây lúa nước và cây bắp lai. Phấn đấu đến năm 2015 đưa sản lượng lương thực đạt 36.970 tấn. Đối với cây công nghiệp, cần ổn định diện tích và thâm canh cây mía gắn với phát triển làng nghề chế biến đường tại chỗ; cải tạo thâm canh và mở rộng diện tích cây điều đến 2015 có 3.350 ha, 6.000 ha cây cao su, 300 ha cây thanh long. Khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư cơ sở thu mua và chế biến các loại nông sản hàng hóa.

Phát triển đàn gia súc, gia cầm theo hướng nâng cao chất lượng sản phẩm hàng hóa, đưa tỷ trọng ngành chăn nuôi ngày càng tăng trong cơ cấu kinh tế nông nghiệp (21%). Đến 2015 tổng đàn bò 21.000 con, heo 80.000 con, gia cầm 400.000 con, dê 5.500 con. Chú trọng con giống, thức ăn, các biện pháp thú y, bảo đảm vệ sinh môi trường, phòng ngừa dịch bệnh; khuyến khích trồng cỏ phục vụ chăn nuôi, đầu tư chăn nuôi quy mô vừa và lớn.

Khuyến khích nhân dân và các tổ chức đầu tư trồng rừng tập trung trồng cây phân tán, trồng lại rừng sau khai thác, chú ý tăng giá trị kinh tế rừng trồng. Phấn đấu trồng rừng tập trung bình quân hàng năm 1.000 ha, nâng tỷ lệ che phủ lên 47,5%. Tăng cường các biện pháp bảo vệ rừng, phòng chống cháy rừng, nâng cao chất lượng giao khoán bảo vệ rừng.

Khai thác, nuôi trồng thủy sản tăng trưởng bình quân hàng năm từ 3,8  đến 4%; số lượng tàu thuyền 240 chiếc/5.500cv, bình quân 23cv/thuyền, sản lượng khai thác 1.350 tấn; tăng cường công tác bảo vệ nguồn lợi hải sản; đẩy mạnh nghề nuôi trồng chú trọng nuôi thủy sản nước lợ, nước ngọt, đến năm 2015 diện tích nuôi trồng đạt 1.010 ha (kể cả mặt nước thủy lợi).

Tiếp tục đầu tư phát triển hạ tầng nông nghiệp, nông thôn nhất là hệ thống giao thông, lưới điện, nước sinh hoạt, các công trình thủy lợi. Tích cực thúc đẩy tiến độ triển khai xây dựng công trình thủy lợi Sông Dinh 3, đập dâng Sông Phan. Khuyến khích phát triển các loại ngành nghề, dịch vụ khu vực nông thôn nhằm tạo thêm việc làm, tăng thu nhập, góp phần xóa đói giảm nghèo. Đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số, thực hiện tốt chính sách trợ giá, hỗ trợ vay vốn phát triển sản xuất, hướng dẫn phương pháp canh tác, tiếp tục đào tạo nghề, đầu tư xây dựng các công trình hạ tầng dân sinh kinh tế thiết yếu ở vùng đồng bào DTTS.

1.2 Phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp:

Khai thác, sử dụng hợp lý tiềm năng, lợi thế về điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên; tập trung phát triển mạnh ngành công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng; chế biến nông, lâm sản; khai thác khoáng sản, hàng thủ công mỹ nghệ... tạo ra giá trị sản phẩm hàng hóa cao.

Phối hợp tốt với các sở, ngành của tỉnh đẩy nhanh tiến độ chuẩn bị và đầu tư các khu CN - TTCN ở địa phương như: khu công nghiệp Sơn Mỹ, Tân Đức, cụm CN-TTCN Nghĩa Hoà, Thắng Hải... Phấn đấu đưa giá trị sản xuất công nghiệp đến 2015 đạt 170 tỷ đồng, tăng bình quân trong giai đoạn 2010-2015 là 17,8%/năm.

1.3 Du lịch, dịch vụ, thương mại:

Đẩy mạnh công tác hỗ trợ, tháo gỡ khó khăn vướng mắc tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư triển khai thi công các dự án du lịch trên địa bàn huyện, đồng thời xử lý kiên quyết đối với các dự án chậm triển khai theo chủ trương của Tỉnh. Xúc tiến thu hút vốn đầu tư phát triển hạ tầng các vùng du lịch. Đôn đốc các nhà đầu tư sớm triển khai các dự án du lịch đã được tỉnh quyết định  cho chủ trương đầu tư nhằm tạo bước đột phá trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế của huyện. Gắn phát triển du lịch với phát triển đô thị trong quy hoạch và đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng.... Phát triển du lịch đi đôi với giải quyết việc làm cải thiện đời sống nhân dân, phục vụ trở lại sự phát triển của du lịch. Tạo mọi điều kiện cho các nhà đầu tư triển khai xây dựng các dự án du lịch, kiên quyết thu hồi các dự án không có khả năng thực hiện, vi phạm quy định về đầu tư. Phấn đấu đến năm 2015 đưa khu vực du lịch cộng đồng và 50% số dự án du lịch đi vào hoạt động.

Tạo điều kiện thuận lợi để phát triển nhanh và ngày càng nâng cao chất lượng các loại hình dịch vụ bưu chính viễn thông, bảo hiểm, tài chính, tín dụng, vận tải, dịch vụ công trong y tế, giáo dục... nhằm thúc đẩy và đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế xã hội.

Tiếp tục triển khai xây dựng hoàn thiện mạng lưới chợ đã quy hoạch, hình thành khu trung tâm thương mại của huyện bảo đảm đáp ứng nhu cầu mua bán, trao đổi, tiêu thụ hàng hoá của nhân dân. Làm tốt công tác quản lý thị trường, giá cả, thúc đẩy sản xuất phát triển.

1.4- Về giao thông - bưu điện:

Khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư phát triển mới phương tiện vận tải, bảo đảm phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, tích cực triển khai xây dựng bến xe huyện, đa dạng hóa các dịch vụ vận tải phục vụ nhu cầu đi lại của nhân dân. Tập trung phối hợp với các ngành của tỉnh và Trung ương đẩy nhanh tiến độ thi công các dự án: Mở rộng QL 1A, QL 55, ĐT 720, đường cao tốc Dầu Giây - Phan Thiết. Tranh thủ các nguồn lực tập trung đầu tư phát triển và nâng cấp hệ thống giao thông nông thôn, đường Tân Xuân - Tân Thắng, đường ven biển phục vụ phát triển du lịch, nâng cấp các tuyến đường nội thị ở thị trấn Tân Nghĩa và thị trấn Tân Minh. Phát động phong trào vận động nhân dân và các tổ chức kinh tế xã hội thực hiện nâng cấp xi măng hóa các đường trong khu dân cư.

Tiếp tục đầu tư phát triển hệ thống bưu chính viễn thông theo hướng ngày càng hiện đại đáp ứng nhu cầu thông tin liện lạc phục vụ phát triển kinh tế xã hội và quốc phòng an ninh. Nâng cấp dung lượng các trạm hiện có nối tiếp cáp quang từ trung tâm huyện đi các xã, thị trấn. Đến năm 2015 đạt từ 18-20 máy/100 dân.

1.5 Tài chính - tín dụng:

Tăng cường công tác quản lý, khai thác các nguồn thu hiện có, chống thất thu, tăng tỷ lệ huy động vào ngân sách so với GDP, bình quân trong 5 năm tới đạt từ 6 - 7%; thu ngân sách bình quân mỗi năm tăng 10 - 15%, tăng thu gắn với bồi dưỡng nguồn thu, tạo nguồn thu mới, đồng thời bảo đảm sản xuất kinh doanh phát triển. Nâng cao tính chủ động và tinh thần trách nhiệm của các ngành, các cấp trong quản lý và sử dụng ngân sách nhà nước có hiệu quả, tăng tích luỹ. Phấn đấu chi đầu tư phát triển bình quân mỗi năm trên 30% tổng chi ngân sách huyện.

Tập trung huy động các nguồn vốn, nhất là vốn nhàn rỗi trong nhân dân, tăng doanh số cho vay vốn với các đối tượng chính sách và đối tượng xã hội, ưu tiên cho vay phát triển kinh tế công thương nghiệp, nông nghiệp và nông thôn; tăng tỷ lệ cho vay trung và dài hạn.

1.6 Quy hoạch xây dựng và đầu tư phát triển:

Thực hiện tốt công tác triển khai các đồ án quy hoạch được duyệt và xem xét rà soát, bổ sung, điều chỉnh kịp thời phù hợp với nhu cầu phát triển kinh tế xã hội của huyện. Xây dựng cơ bản hoàn thành khu trung tâm hành chính huyện, từng bước lập quy hoạch xây dựng và đầu tư kết cấu hạ tầng khu trung tâm các xã, thị trấn gắn với tiêu chí quy hoạch xây dựng nông thôn mới.

Phát huy nội lực đi đôi với thu hút ngoại lực nhằm tạo vốn đầu tư phát triển. Tăng cường biện pháp khai thác các khoản thu từ quỹ đất, tiếp tục thực hiện tốt cơ chế tài chính trong việc sử dụng quỹ đất để tạo vốn xây dựng kết cấu hạ tầng. Tích cực tranh thủ các nguồn vốn của Trung ương, của tỉnh để đầu tư phát triển hạ tầng kỹ thuật kinh tế xã hội. Tăng cường công tác quản lý nhà nước trên lĩnh vực xây dựng, tăng cường công tác thanh tra kiểm tra kịp thời, phát hiện ngăn chặn và xử lý nghiêm minh các trường hợp vi phạm.

1.7 Tài nguyên - Môi trường: Tiếp tục thực hiện một số giải pháp cấp bách trong công tác quản lý nhà nước về tài nguyên môi trường; quản lý tốt quỹ đất đai, sử dụng theo quy hoạch được duyệt. Tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát trên các lĩnh vực quản lý tài nguyên khoáng sản, bảo vệ môi trường, tài nguyên nước... kiên quyết xử lý các trường hợp vi phạm. Cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đạt trên 95% đối với tất cả các loại đất

1.8- Tiếp tục phát triển các thành phần kinh tế:

Nghiên cứu hình thành các loại hình kinh tế tập thể, có kế hoạch đẩy nhanh việc xúc tiến thành lập các HTX tín dụng ở thị trấn Tân Nghĩa và Tân Minh. Đa dạng hóa các hình thức sở hữu và hình thức tổ chức sản xuất, kinh doanh nhằm tạo động lực phát triển. Khuyến khích phát triển các hình thức tổ chức sản xuất, kinh doanh hỗn hợp nhiều hình thức sở hữu, nhất là hình thức công ty cổ phần, các chủ thể là tập thể, tư nhân...

2- Tạo chuyển biến rõ nét trong các hoạt động văn hoá xã hội, nâng cao mức sống dân cư, bảo đảm an sinh xã hội:

2.1 Dân số, lao động và việc làm:

Đẩy mạnh công tác truyền thông dân số, nâng cao nhận thức đồng thời đáp ứng tốt hơn nhu cầu về chăm sóc sức khỏe sinh sản, kế hoạch hóa gia đình nhằm duy trì vững chắc xu thế giảm sinh, phấn đấu đến năm 2015 giảm tỷ lệ phát triển dân số tự nhiên còn 1,12%, giảm nhanh tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên và thực hiện tốt các chính sách nâng cao chất lượng dân số. Phấn đấu tỷ lệ giảm sinh 0,03%.

Mở rộng và đa dạng hóa các hình thức dạy nghề cho người lao động, nhất là đối với thanh niên mới bước vào tuổi lao động chưa có việc làm, thanh niên nông thôn; đẩy mạnh công tác thông tin, dịch vụ giới thiệu việc làm; sử dụng có hiệu quả quỹ quốc gia về giải quyết việc làm; khuyến khích các thành phần kinh tế mở rộng sản xuất, phát triển ngành nghề. Phấn đấu mỗi năm giải quyết việc làm từ 2.500 đến 3.000 lao động và tham gia xuất khẩu lao động.

2.2 Tích cực đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội của huyện

Tiếp tục phát triển sự nghiệp giáo dục - đào tạo, nâng cao chất lượng giáo dục ở các ngành học, bậc học, đáp ứng tốt hơn yêu cầu nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực phục vụ nhu cầu phát triển kinh tế xã hội. Đẩy mạnh công tác khuyến học, xã hội hóa giáo dục ở các cấp học, bậc học và đào tạo nghề. Tiếp tục đầu tư hoàn thành cơ bản chương trình kiên cố hóa trường lớp các bậc học, hoàn thành thi công xây dựng trường THPT Hàm Tân, THPT Tân Thắng theo hướng kiên cố hóa, chuẩn hóa. Tiếp tục nâng cao chất lượng phổ cập giáo dục các cấp từ Mầm non đến THCS, thực hiện phổ cập giáo dục trung học phổ thông ở những nơi có điều kiện.

Quan tâm đầu tư xây dựng Trung tâm dạy nghề, trung tâm giáo dục thường xuyên, củng cố và nâng cao chất lượng hoạt động trung tâm học tập cộng đồng 10 xã, thị trấn.

2.3 Nghiên cứu ứng dụng khoa học công nghệ

Đẩy mạnh và nhân rộng việc ứng dụng thành tựu công nghệ sinh học phục vụ chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi, phòng trừ dịch bệnh. Khuyến khích tạo điều kiện thuận lợi để các thành phần kinh tế tham gia vào hoạt động phát triển khoa học công nghệ, mạnh dạn đầu tư, áp dụng tiến bộ công nghệ mới vào sản xuất và kinh doanh. Tiếp tục thực hiện mở rộng chương trình phát triển công nghệ thông tin mà trọng tâm là đề án phát triển công nghệ thông tin phục vụ quản lý nhà nước của huyện nhằm cung cấp thông tin và dịch vụ hành chính công phục vụ sản xuất, đời sống của các tầng lớp nhân dân. Triển khai kết nối mạng nội bộ của UBND huyện đến 10 xã, thị trấn.

2.4 Về công tác chăm sóc sức khoẻ nhân dân:

Thực hiện tốt các chính sách bảo vệ, chăm sóc sức khỏe nhân dân, nhất là đối với người nghèo, đối tượng chính sách, trẻ em, đồng bào dân tộc thiểu số. Xã hội hóa y tế phải đồng thời với việc tăng cường công tác quản lý nhà nước về y, dược; bảo đảm chất lượng khám chữa bệnh cho người dân. Hết sức chú trọng công tác đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn, đặc biệt là giáo dục y đức cho đội ngũ thầy thuốc. Đẩy mạnh công tác y tế dự phòng, kiểm tra giám sát chặt chẽ vệ sinh môi trường, vệ sinh an toàn thực phẩm. Chủ động phòng chống dịch bệnh. Thực hiện tốt các chương trình y tế quốc gia. Cải thiện điều kiện dinh dưỡng, thực hiện tốt chính sách khám chữa bệnh miễn phí cho trẻ em dưới 6 tuổi, phấn đấu giảm tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng dưới 12%. Tiếp tục đầu tư, nâng cao chất lượng khám chữa bệnh, tăng cường củng cố mạng lưới y tế cơ sở; phối hợp đôn đốc đẩy nhanh tiến độ thi công Bệnh viện huyện để sớm đưa vào sử dụng trong năm 2011. Phấn đấu 100% trạm y tế có Bác sỹ, cơ sở vật chất, bảo đảm cho hoạt động, nhất là ở các vùng khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, giữ chuẩn quốc gia về y tế đối với 10 xã, thị trấn.

2.5 Văn hóa thông tin - thể dục thể thao:

Đẩy mạnh công tác thông tin tuyên truyền đường lối chính sách của Đảng, Nhà nước, nâng cao ý thức chính trị, lòng yêu nước, phát huy những giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của dân tộc. Tiếp tục nâng cao chất lượng và hiệu quả phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”, tạo chuyển biến rõ nét và bền vững về môi trường văn hóa lành mạnh ở địa phương. Chú trọng đúng mức công tác quản lý văn hóa và dịch vụ văn hóa, bài trừ có hiệu quả các tệ nạn xã hội... góp phần tích cực vào việc thực hiện mục tiêu “3 giảm”. Đến năm 2015 có 30% xã, thị trấn, 75% thôn, khu phố đạt chuẩn văn hóa, 98% cơ quan đạt chuẩn nếp sống văn minh, 95% GĐVH.

Xã hội hóa mạnh mẽ các hoạt động văn hóa, thể thao. Đẩy mạnh phong trào văn hóa văn nghệ quần chúng, phong trào rèn luyện sức khỏe lành mạnh trong nhân dân, nhất là trong thanh thiếu niên. Đến năm 2015, 100% xã, thị trấn có các thiết chế văn hóa thể thao và trên 90% hộ gia đình được xem truyền hình.

2.6 Thực hiện các chính sách xã hội, giảm nghèo và nâng cao mức sống các tầng lớp dân cư:

 Tiếp tục thực hiện tốt chính sách ưu đãi xã hội đối với đối tượng chính sách, nhất là đối với gia đình có công với cách mạng. Vận động toàn dân tham gia thực hiện chính sách đền ơn đáp nghĩa, phấn đấu đến 2015 các gia đình chính sách có mức sống đạt trung bình khá trở lên.

Các cấp các ngành, các đoàn thể và toàn xã hội tập trung thực hiện có hiệu quả chương trình xóa đói giảm nghèo, đầu tư cơ sở hạ tầng xã nghèo và hỗ trợ nhà ở cho người nghèo. Đẩy mạnh phát triển kinh tế, phát triển ngành nghề. Tăng cường các biện pháp hỗ trợ về sản xuất và đời sống..., chống tái nghèo. Tập trung nguồn lực đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, thực hiện tốt chính sách xã hội tại các xã đặc biệt khó khăn, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng bãi ngang ven biển. Phấn đấu đến năm 2015 tỷ lệ hộ nghèo còn dưới 3%.

3- Tăng cường quốc phòng, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội:

3.1 Về quốc phòng:

Tiếp tục quán triệt, thực hiện Nghị quyết 08 của Ban Chấp hành Trung tương Đảng (khóa IX) về chiến lược bảo vệ tổ quốc trong tình hình mới, từng cấp, từng ngành phải xây dựng kế hoạch cụ thể thực hiện nhiệm vụ bảo vệ tổ quốc ở địa phương đơn vị mình. Xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững chắc; kết hợp chặt chẽ nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội với quốc phòng - an ninh. Xây dựng lực lượng vũ trang của huyện vững mạnh, coi trọng công tác sẵn sàng chiến đấu, giáo dục chính trị và xây dựng cơ quan, đơn vị vững mạnh toàn diện. Tiếp tục phát triển lực lượng dân quân tự vệ đủ về số lượng, bảo đảm về chất lượng. Phấn đấu tỷ lệ đảng viên đạt 18-20%, đoàn viên 50% trong lực lượng dân quân tự vệ. Giao quân nghĩa vụ quân sự hàng năm đều đạt 100%, trong đó có 2% đảng viên trở lên.

3.2 Về an ninh trật tự:

Tiếp tục thực hiện tốt Nghị quyết 08 của Bộ Chính trị về chiến lược bảo vệ an ninh quốc gia trong tình hình mới, các chương trình quốc gia phòng chống tội phạm. Phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, củng cố nâng cao chất lượng phong trào toàn dân bảo vệ an ninh tổ quốc, từng bước hình thành thế trận an ninh nhân dân vững chắc; chủ động nắm chắc tình hình, triển khai có hiệu quả các phương án bảo vệ vững chắc an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội, kiên quyết đấu tranh làm thất bại âm mưu của các thế lực thù địch, các phần tử cực đoan, không để xảy ra đột biến bất ngờ, phát sinh điểm nóng. Bảo vệ an toàn tuyệt đối các ngày lễ lớn, các sự kiện chính trị và các mục tiêu quan trọng của địa phương. Đẩy mạnh thực hiện mục tiêu “3 giảm”, chủ động phòng chống, ngăn chặn, xử lý nghiêm đối với các loại tội phạm, không để tội phạm gia tăng, đột biến. Nâng cao tỷ lệ điều tra khám phá các vụ án hình sự. Tiếp tục kiềm chế và làm giảm tai nạn giao thông. Tăng cường kiểm tra, quản lý chặt chẽ nhân hộ khẩu, ngăn chặn đẩy lùi các tệ nạn xã hội, làm chuyển biến thật sự và vững chắc tình hình an ninh trật tự, an toàn xã hội.

3.3 Về hoạt động tư pháp:

Tiếp tục làm tốt công tác tuyên truyền giáo dục pháp luật thực hiện cải cách tư pháp, phối hợp đồng bộ, kịp thời giữa các cơ quan tư pháp trong đấu tranh phòng chống tội phạm. Nâng cao hơn nữa chất lượng điều tra, truy tố, xét xử các hành vi vi phạm pháp luật đảm bảo kịp thời, đúng pháp luật, không để oan sai, không để lọt tội phạm. Tăng cường công tác giám sát các hoạt động tư pháp trước hết là giám sát giải quyết đơn thư khiếu nại tố cáo về tư pháp; tăng cường công tác thi hành án, không để tồn động nhiều đơn thư và các vụ việc phải thi hành.

4- Nâng cao năng lực, hiệu quả của chính quyền các cấp, tăng cường pháp chế XHCN

Tiếp tục phát huy trách nhiệm, nâng cao hiệu lực và hiệu quả quản lý, điều hành của UBND huyện, xã. Cụ thể hoá kịp thời, đầy đủ các Nghị quyết của Đảng. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, nhất là các lĩnh vực quản lý sử dụng đất đai, quản lý xây dựng, phòng chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm chống lãng phí và giải quyết khiếu nại tố cáo của công dân.

Củng cố tổ chức, bộ máy các phòng ban chuyên môn của huyện và bộ máy chính quyền xã, thị trấn để đủ sức làm tốt chức năng tham mưu và quản lý. Tăng cường kỷ cương, kỷ luật hành chính trong quản lý điều hành và tổ chức thực hiện nhiệm vụ. Tiếp tục thực hiện phương án tinh giảm biên chế theo Nghị định 132 của Chính phủ. Tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao chất lượng đội ngũ CBCC về trình độ chuyên môn, năng lực thực tiễn, phẩm chất đạo đức, tinh thần trách nhiệm và ý thức tổ chức kỷ luật.

Tiếp tục thực hiện có hiệu quả cải cách thủ tục hành chính, thực hiện tốt cơ chế “Một cửa” và “Một cửa liên thông”, khắc phục tình trạng trể hẹn, nhất là đối với lĩnh vực đất đai; giải quyết có hiệu quả những tồn tại trong giải quyết hồ sơ hành chính của tổ chức, công dân đúng trình tự, thủ tục và thời gian quy định. Thực hiện tốt quy chế dân chủ ở cơ sở, công khai hoá các thủ tục hành chính để nhân dân biết. Tập trung củng cố bộ máy chính quyền cấp xã theo tinh thần Nghị quyết 11 của Tỉnh ủy (khóa X).

5- Phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, mở rộng mặt trận tập hợp các tầng lớp nhân dân, các giai cấp; các dân tộc, tôn giáo, gia đình thân nhân có người định cư ở nước ngoài; phát động phong trào thi đua trong các tầng lớp nhân dân trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, góp phần thực hiện nhiệm vụ chính trị của địa phương, cải thiện dân sinh, nâng cao dân trí, phát huy dân chủ, đáp ứng tốt hơn nguyện vọng chính đáng của nhân dân.

Cấp uỷ, chính quyền từ huyện đến cơ sở quan tâm, tạo điều kiện thuận lợi để Mặt trận, các đoàn thể nâng cao vai trò vị trí trong hệ thống chính trị, đổi mới mạnh mẽ nội dung, phương thức hoạt động, hướng về cơ sở, sát địa bàn, sát dân; khắc phục bệnh hành chánh, hình thức trong hoạt động; tăng cường giáo dục chính trị tư tưởng, pháp luật, đạo đức, lối sống trong các tầng lớp nhân dân. Quan tâm phát triển hội viên, đoàn viên, xây dựng thực lực cốt cán đảm bảo số lượng và chất lượng nhất là vùng xa, vùng đồng bào dân tộc, tôn giáo. Phấn đấu đến năm 2015, duy trì trên 80% quần chúng vào các tổ chức đoàn thể; 80% đoàn thể vững mạnh, không có tổ chức yếu kém; xây dựng phát triển cốt cán chính trị phát huy tác dụng, thực chất, hiệu quả.

6- Tăng cường công tác xây dựng Đảng, nâng cao năng lực và sức chiến đấu của Đảng

- Tăng cường giáo dục chính trị tư tưởng, tạo sự thống nhất về nhận thức, ý chí và hành động trong toàn Đảng bộ. Tiếp tục thực hiện có hiệu quả Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”. Tổ chức học tập, tuyên truyền sâu rộng và thực hiện có hiệu quả Văn kiện Đại hội Đảng các cấp nhiệm kỳ 2010-2015, chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Tăng cường giáo dục lý tưởng cộng sản, mục tiêu xã hội chủ nghĩa, chủ nghĩa yêu nước và truyền thống cách mạng cho thế hệ trẻ. Phát huy tính năng động, sáng tạo, tự giác, tinh thần đoàn kết, gương mẫu của cán bộ, đảng viên; giữ gìn tư cách, rèn luyện ý thức tổ chức kỷ luật, có lối sống lành mạnh, có tinh thần trách nhiệm với công việc, với nhân dân; chống mọi biểu hiện cơ hội, cục bộ, thực dụng, cá nhân chủ nghĩa.  Nêu cao tinh thần cảnh giác cách mạng, đấu tranh phòng chống có hiệu quả âm mưu “diễn biến hoà bình” của các thế lực thù địch, luận điệu tuyên truyền, xuyên tạc và các quan điểm sai trái của các phần tử cơ hội, phản động; thực hiện nghiêm túc công tác bảo vệ bí mật, kỷ luật phát ngôn trong Đảng và an ninh chính trị nội bộ, an ninh tư tưởng văn hoá theo quy định.

Phát huy sức mạnh tổng hợp của hệ thống chính trị trong công tác tư tưởng. Nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác chính trị, tư tưởng theo hướng sát thực tế, sát người, sát việc. Chú trọng nâng cao đời sống văn hoá tinh thần, góp phần thực hiện tốt Nghị quyết của Đảng về xây dựng, phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Nắm bắt kịp thời diễn biến tư tưởng, tâm trạng, dư luận xã hội; kiện toàn tổ chức bộ máy làm công tác tuyên truyền để đủ sức thực hiện tốt nhiệm vụ được giao. Phát động phong trào thi đua yêu nước gắn với tổ chức tuyên truyền kỷ niệm các ngày lễ lớn, các nhiệm vụ chính trị của địa phương.

- Củng cố đảng về tổ chức, mở rộng dân chủ, kỷ luật, kỷ cương và đoàn kết thống nhất trong Đảng

Công tác tổ chức: Tập trung củng cố, kiện toàn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị, các cơ quan tham mưu từ huyện đến cơ sở. Giữ vững nguyên tắc tổ chức, sinh hoạt Đảng; phát huy dân chủ trong nội bộ, tăng cường kỷ kuật, kỷ cương, đoàn kết thống nhất trong Đảng. Xây dựng, bổ sung và thực hiện tốt quy chế làm việc của từng loại hình tổ chức cơ sở Đảng. Làm tốt công tác bảo vệ chính trị nội bộ. Tiếp tục đổi mới và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị ở cơ sở. Lập kế hoạch, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ nhằm thay thế, chuẩn hoá cho trước mắt và những năm về sau. Chú trọng củng cố, nâng cao chất lượng hoạt động của các tổ chức Đảng; tăng cường các biện pháp xây dựng tổ chức cơ sở Đảng trong sạch vững mạnh. Phát huy vai trò hạt nhân lãnh đạo chính trị và tính chiến đấu của các tổ chức cơ sở Đảng, phấn đấu đến cuối năm 2015 có 70% tổ chức cơ sở Đảng đạt TSVM, không có cơ sở yếu kém; 100% thôn, khu phố, trường học có tổ chức Đảng, không có thôn, khu phố sinh hoạt ghép. Tiếp tục đầu tư hiện đại hóa phương tiện làm việc các cơ quan của Đảng.

Công tác đảng viên: Thực hiện tốt quy định quản lý đảng viên ở nơi công tác và nơi cư trú; động viên cán bộ, đảng viên tự giác học tập nâng cao trình độ, đáp ứng tốt yêu cầu nhiệm vụ. Thực hiện tốt chế độ tự phê bình và phê bình; phân tích, đánh giá chất lượng tổ chức cơ sở Đảng và đảng viên hàng năm gắn với kết quả thực hiện Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”. Xử lý nghiêm minh những đảng viên vi phạm nguyên tắc, quy định của Đảng; kiên quyết đưa ra khỏi Đảng những đảng viên thoái hoá, biến chất.

Chú trọng công tác phát triển đảng; quan tâm phát triển đội ngũ đảng viên trẻ đặc biệt ở địa bàn dân cư, đồng bào dân tộc, tôn giáo, lực lượng dân quân tự vệ, giáo viên... Phấn đấu hàng năm kết nạp từ 60 đảng viên mới.

Xây dựng đội ngũ cán bộ trong hệ thống chính trị từ huyện đến cơ sở có đạo đức, phẩm chất, năng lực để đảm đương nhiệm vụ được giao. Định kỳ tiến hành rà soát, bổ sung, điều chỉnh quy hoạch đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý từ huyện đến cơ sở. Thực hiện việc điều động, luân chuyển, sắp xếp hợp lý, khoa học đội ngũ cán bộ. Trong tuyển dụng, bố trí, bổ nhiệm, coi trọng cả hai mặt đức và tài, đồng thời đảm bảo tính khách quan, công tâm, công khai, dân chủ và hiệu quả đối với nhiệm vụ chung. Cán bộ lãnh đạo cấp huyện có trình độ chuyên môn đại học, lý luận chính trị từ trung cấp trở lên, sử dụng thành thạo vi tính; cán bộ chủ chốt và chuyên môn cấp xã đạt chuẩn theo quy định, 100% có trình độ trung cấp trở lên, riêng 2 thị trấn cán bộ chủ chốt có trình độ chuyên môn đại học và cao cấp lý luận chính trị - hành chính. Quan tâm xây dựng đội ngũ cán bộ trẻ, cán bộ nữ, cán bộ dân tộc thiểu số. Kiên quyết đưa ra khỏi bộ máy những cán bộ, công chức mắc nhiều sai phạm, không hoàn thành nhiệm vụ.

- Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát của cấp uỷ và UBKT các cấp, nhất là kiểm tra việc chấp hành Cương lĩnh, Điều lệ, Chỉ thị, Nghị quyết, Quy định… của Đảng; kiểm tra đảng viên có dấu hiệu vi phạm. Giải quyết tốt đơn thư khiếu nại, tố cáo có liên quan đến cán bộ, đảng viên. Kiện toàn, củng cố tổ chức cán bộ, nâng cao chất lượng hoạt động của cơ quan kiểm tra cấp huyện, UBKT và cán bộ làm công tác kiểm tra ở cơ sở. Tích cực, chủ động giáo dục phòng ngừa vi phạm; đẩy mạnh cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, lãng phí; xây dựng đội ngũ đảng viên luôn tiên phong gương mẫu trong công tác, có phẩm chất, đạo đức, lối sống cả ở công sở và nơi cư trú, đủ sức gánh vác và hoàn thành tốt nhiệm vụ, đáp ứng được yêu cầu phát triển trong thời kỳ mới. Tăng cường đối thoại với quần chúng nhân dân, chỉ đạo tháo gỡ kịp thời những khó khăn, vướng mắc và những vấn đề mới nảy sinh trong thực tiễn. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động của các cơ quan Đảng, chính quyền, Mặt trận và các đoàn thể.

              Phát huy truyền thống cách mạng của địa phương, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân huyện nhà đoàn kết, nhất trí, chung sức, chung lòng, quyết tâm khắc phục mọi khó khăn, đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế và nâng cao chất lượng phát triển.  Ra sức thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI; Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XII và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ IX đã đề ra nhằm đạt cho được mục tiêu: Dân giàu, Nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh./-

 

                                                    Văn phòng Huyện ủy Hàm Tân

Ghi nhớ trang (bookmarks)  |  Gửi bạn bè  |  In trang Được xem: 511 lần

 


Trang chủ  Trang trước

  • Niên giám Thống kê Huyện
  • Danh bạ E-mail các Đơn vị
  • Hỏi Đáp
  • Công khai Ngân sách
    • Quyết toán NSNN 2005
    • Quyết toán NSNN 2006
    • Quyết toán NSNN 2007
  • Thủ tục hành chính
    • Đất đai
    • Đăng ký kinh doanh
    • Hộ Tịch
    • Chứng Thực
    • Xác nhận đủ điều kiện về an ninh trật tự
    • Một Cửa Liên Thông
      • Đất Đai
      • Đăng ký kinh doanh
      • Cấp phép Xây dựng
      • Cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở
      • Chính sách Xã hội
    • Cấp giấy phép khai thác khoáng sản vật liệu xây dựng thông thường cho các cá nhân
  • Quy Hoạch và Phát triển
    • Định hướng Phát triển
    • Thông tin Quy hoạch
    • Bản đồ Quy hoạch
  • Văn bản chỉ đạo, điều hành
  • Văn học Nghệ thuật
    • Tác giả - Tác phẩm
    • Câu Đối
    • Thơ ca
    • Truyện Ngắn
    • Truyện Cười
  • An Ninh - Trật Tự
  • Phòng cháy - chữa cháy
  • YT-VH-GD-Thể Thao
  • Dự án đầu tư xây dựng
  • Gương Người tốt Việc tốt
  • Địa điểm Tham quan

Chuong trình hành động

<p>phòng chống tham nhũng</p>

Thăm dò ý kiến

    Bạn đánh giá thế nào về hamtan.gov.vn?

  •   
  •   
  •   
  •   

Xem kết quả

Trường Cao đẳng nghề Bình Thuận

Mail công vụ Hàm Tân

Trường THPT Đức Tân

Mail công vụ tỉnh Bình Thuận

Thăm dò ý kiến người dân


Powered QTsoft Trang chủ  |  Giới thiệu  |  Sơ đồ site  |  Ý kiến người dân  |  Liên hệ  

Bản quyền thuộc về Văn phòng HĐND & UBND Huyện Hàm Tân
Khu phố 1 – Thị trấn Tân Nghĩa, Huyện Hàm Tân, Tỉnh Bình Thuận
ĐT: (062) 3877018 - Fax: (062) 3877276 – Email: hamtan@hamtan.gov.vn